Farida Shaheed - Một trong những vấn đề then chốt với Việt Nam ngày nay là có một không gian cho các cuộc tranh luận và biểu đạt những quan điểm đa nguyên. Một ví dụ rõ ràng liên quan đến vấn đề này, mà tôi rất quan tâm, là việc dạy môn lịch sử với chỉ một bộ sách giáo khoa trong các nhà trường. Như đã đề cập trong báo cáo chuyên đề của tôi về viết sách sử và dạy sử trước Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc năm nay (A/68/296), việc dạy sử nên khuyến khích tư duy phê phán, học tập từ phân tích và tranh luận, và tạo cách tiếp cận so sánh và đa chiều hơn là ấn trẻ em vào quan điểm đơn chiều. Cách tiếp cận này đặc biệt cần sử dụng rộng rãi nhiều loại học liệu, bao gồm nhiều loại sách giáo khoa của nhiều nhà xuất bản. Tôi khuyến khích nhiều bên liên quan ở Việt Nam tham khảo báo cáo này của tôi...
*
Chuyến
thăm và làm việc tại Việt Nam, ngày 18-29/11/2013
Các
kết luận và khuyến nghị sơ bộ
Hà
Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2013.
Thưa
báo giới, thưa
các quý bà quý ông,
Tôi
rất vui mừng được chia sẻ với quý vị kết quả quan
sát sơ bộ của tôi khi kết thúc chuyến thăm chính thức
trong
12 ngày với tư cách là Báo cáo viên Đặc biệt về các
quyền văn hoá.
Tôi
xin được bắt đầu bằng lời cảm ơn trân trọng gửi
tới Chính phủ Việt Nam đã mời tôi tới thăm và làm
việc chính thức, và cũng cảm ơn Chính phủ đã nỗ lực
rất nhiều trong việc hỗ trợ sắp xếp chương trình làm
việc cũng như bố trí các cuộc họp toàn diện và lý
thú.
Tôi
xin được nhấn mạnh tầm quan trọng của lời mời này.
Việc đảm bảo quyền thụ hưởng văn hoá của tất cả
mọi người là một vấn đề phức tạp và để hoàn
thành nhiệm vụ này là việc không hề dễ dàng. Điều
này đã được minh chứng qua các chủ
đề
cụ thể tôi đã
đề
cập đến trong suốt chuyến thăm của mình, đó là: quyền
được thụ hưởng nghệ thuật, tự do sáng tạo và biểu
đạt
nghệ thuật, quyền của người dân
trong
việc thể hiện bản dạng văn hoá của họ, và quyền
tiếp cận và thụ hưởng di sản văn hoá của chính họ
cũng như của người khác, vấn đề về dạy lịch sử
trong nhà trường, và tác động của du lịch đối với
việc thụ hưởng các quyền văn hoá.
Trong
suốt chuyến thăm và làm việc của tôi tại Việt Nam,
Tôi đã đi thăm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội An,
Sa Pa, cũng như một số làng bản ở Đà Nẵng, tỉnh
Quảng Nam và Lào Cai. Tôi đã có cơ hội gặp mặt và làm
việc với nhiều quan chức Chính phủ ở cấp quốc gia và
địa phương, phụ trách các lĩnh vực văn hoá, du lịch,
giáo dục, thông tin truyền thông, công tác dân tộc thiểu
số, cũng như rất nhiều quan chức khác của Uỷ ban nhân
dân các cấp, Ban Tuyên Giáo Trung Ương của Uỷ ban Trung
ương Đảng, đại biểu quốc hội và đại diện các hội
và hiệp hội. Tôi cũng đã gặp gỡ với các nghệ sĩ,
giới học giả, giám đốc và cán bộ công tác tại các
viên nghiên cứu hoặc các thiết chế văn hoá, đại diện
của xã hội dân sự, thành viên của các cộng đồng dân
tộc, những người tham gia trực tiếp vào lĩnh vực du
lịch, và các cơ quan của Liên Hợp Quốc. Tôi xin trân
trọng cảm ơn tất cả các cá nhân và tổ chức đã dành
thời gian gặp mặt, tiếp đón nồng nhiệt, và trên hết
là đã nhiệt tình chia sẻ với tôi rất nhiều thông tin.
Tôi
xin được làm rõ rằng tôi là chuyên gia độc lập thực
hiện báo cáo cho Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc và Hội
Đồng Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam vừa
trúng cử thành viên của Hội đồng ngay trong tháng này.
Mặc dù được Hội Đồng Nhân Quyền bổ nhiệm, nhưng
tôi không phải nhân viên chính thức của Liên Hợp Quốc
và vị trí hiện tại tôi của tôi là vị trí danh dự.
Tư cách độc lập của tôi có vai trò rất quan trọng và
nó cho phép tôi thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
mình một cách trung lập.
Ngày
hôm nay, tôi sẽ chỉ đưa ra một số ý kiến ban đầu
của mình. Ngoài ra, tôi sẽ tiếp tục phát triển các ý
kiến đánh giá của mình trong báo cáo chính thức, khi đó
tôi mới đưa ra các khuyến nghị cụ thể. Tôi sẽ trình
bày báo cáo này tại kỳ họp lần thứ 25 của Hội Đồng
Nhân Quyền vào tháng 3 năm 2014 tại Geneva.
Thưa
quý vị,
Việt
Nam hiện đang ở một thời khắc quan trọng, tại đó các
bạn đạt được những tiến bộ to lớn về phát triển
kinh tế, xoá đói giảm nghèo ở các khu vực nông thôn và
vùng sâu vùng xa, và đã có nhiều nỗ lực hướng tới
việc hoàn thành các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Những tiến
bộ này là vô cùng ấn tượng. Tôi có thể lấy dẫn
chứng là ở các bản làng nông thôn mà tôi đã đến
thăm, đường xá đã được xây dựng nhiều, trường học
được thành lập và nhiều nhà cửa đã được hỗ trợ
hoặc tu sửa.
Tôi
tin rằng các chương trình như vậy sẽ trở nên hiệu quả
hơn nữa nếu sự tham gia của các cộng đồng địa
phương và việc sử dụng tri thức của họ, trong đó có
cả tri thức truyền thống, được đảm bảo. Sự cứng
nhắc trong quá trình thiết kế và thực hiện các chương
trình, cùng với hướng tiếp cận từ trên xuống đã ảnh
hưởng tiêu cực đến hiệu quả của các chương trình
này.Ví dụ, ở các làng, bản thường xuyên bị lũ lụt
thì các mô hình nhà truyền thống của người dân thích
hợp với đối phó lũ hơn rất nhiều so với mô hình nhà
mà các chương trình hỗ trợ của chính phủ đang khuyến
khích.Tôi đánh giá cao việc phát huy kiến trúc truyền
thống trong việc xây các nhà văn hoá ở khu vực Tây
Nguyên. Tuy nhiên, tôi khuyến khích Chính phủ nên cho
người dân được thực sự lựa chọn mô hình kiến trúc
mà họ muốn, dù là truyền thống hay hiện đại,đối
với ngôi nhà riêng của họ, khi Chính phủ mở rộng các
chương trình hỗ trợ về nhà ở. Nói tổng quát hơn, tôi
khuyến khích Chính phủ cần đảm bảo có nhiều sự linh
hoạt hơn trong chính sách và tham vấn thực sự với các
cộng đồng có liên quan khi phát triển các chương trình.
Cần xây dựng một mô hình thực hành mới trong đó người
dân có được không gian để đóng góp vào việc thiết
kế các chương trình có ảnh hưởng to lớn tới lối
sống của họ.
Tôi
tin rằng Chính phủ cũng như nhiều bên liên quan khác
trong xã hội Việt Nam đã để ý thấy các chương trình
phát triển có thể có tác động tiêu cực đối với các
quyền văn hoá của con người, đặc biệt là các quyền
của các dân tộc thiểu số. Chính phủ cần nỗ lực
nhiều hơn nữa trong việc xác định và giảm thiểu các
ảnh hưởng tiêu cực này để cho đất nước được
hưởng lợi đầy đủ từ chính sức mạnh của các nền
văn hoá đa dạng của các dân tộc nhằm thúc đẩy phát
triển bền vững.
Điều
này có liên quan mật thiết đối với lĩnh vực du
lịch.Với việc sử dụng văn hoá như một nguồn lực để
phát triển, Việt Nam đang hấp dẫn một số lượng ngày
càng nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế. Rất
nhiều chương trình đã được phát triển nhằm giúp
người dân của các cộng đồng dân tộc bán được sản
phẩm nghề thủ công của họ và tiếp cận được với
thị trường, cũng như biểu diễn minh hoạ văn hoá truyền
thống của họ thông qua nhiều lễ hội và chương trình
biểu diễn khác nhau. Điều này đã cho phép các cộng
đồng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế ở khu vực
họ sinh sống, và cũng giúp Chính phủ thúc đẩy hình ảnh
về một đất nước đa văn hoá.
Tuy
vậy, nhiều thách thức vẫn còn đó. Như quý vị đã
biết, tôi đã đi thăm Sa Pa và các làng bản xung quanh. Ở
đó, tôi có thể thấy rằng, mặc dù du lịch đã mang lại
nguồn sinh kế phụ trợ cho người dân địa phương,
nhưng họ lại không phải là đối tượng hưởng lợi
chủ yếu từ nguồn doanh thu này. Cần có các biện pháp
đảm bảo rằng những người dân mà di sản của họ
được đem ra sử dụng để thúc đẩy du lịch, phải
được trao quyền để quản lý các hoạt động này theo
hướng có lợi nhất cho họ.
Ngoài
ra, tôi cũng đặc biệt quan ngại đối với những tình
huống trong đó con người ta được yêu cầu trình diễn
chứ không phải thực sống đời sống văn hoá riêng của
họ, hoặc là để lưu giữ một cách mô phỏng một số
khía cạnh cụ thể trong văn hoá của họ để thoả mãn
nhu cầu của khách du lịch, hoặc, ngược lại, thay đổi
một số khía cạnh cụ thể trong văn hoá của họ nhằm
thoả mãn các nhu cầu đó ví dụ như thay đổi truyền
thống ăn ở, hay rút ngắn việc thực hiện một số tập
quán, hoặc bán vé cho những người muốn tham gia. Tôi
muốn nói đến ví dụ lễ hội đua bò Bảy Núi truyền
thống của người Khmer ở một số tỉnh miền nam Việt
Nam.
Một
ví dụ khác là về Cồng chiêng. Nhiều cộng đồng ở
khu vực miền Trung và Tây Nguyên vẫn đang chơi Cồng
chiêng và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá
phi vật thể. Cồng chiêng được coi là một nhạc cụ
linh thiêng và quý giá, chỉ được đem ra chơi vào những
dịp đặc biệt. Tuy nhiên ngày nay Cồng chiêng còn được
đem ra biểu diễn theo yêu cầu của khách du lịch ở một
số nơi, và rõ ràng điều này đã làm mất đi tầm quan
trọng văn hoá ban đầu của sinh hoạt này. Tôi thực sự
thấy rằng trong những trường hợp như vậy, các cộng
đồng có liên quan phải được tham vấn là có nên trình
diễn hay không, như thế nào, bao giờ và ở đâu, và được
chia sẻ các khía cạnh có liên quan đến di sản văn hoá
của họ.
Tất
nhiên, khó có thể ngăn cản hoặc thậm chí dù chỉ mong
muốn ngăn cản sự tiến hóa của những thực hành văn
hóa đang diễn ra hàng ngày sống động khi các nhóm có sự
giao lưu tương tác với nhau.Điều này có thể là rất
tích cực. Tuy nhiên, Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo
rằng du lịch không dẫn đến chỉ còn sân khấu hóa
những thực hành văn hóa, còn chủ nhân của văn hóa chỉ
đóng vai văn hóa của mình, hay vắn tắt hóa con người
xuống thành một số hình thức thể hiện văn hóa của
họ mà không thừa nhận tính nhân văn trong đó.
Vì
thế, rất cần phải để cho các cộng đồng tự do phát
triển văn hóa của họ, ở cả bên ngoài các khu vực
phát triển du lịch. Chính phủ nên hỗ trợ không chỉ
các hoạt động biểu diễn văn hóa hay sản phẩm truyền
thống dành cho du khách mà cũng cần cùng với cộng đồng
có liên quan, trên cơ sở nguyện vọng của họ, xây dựng
những chương trình để tiếp tục thực hành văn hóa của
họ nếu đó là nguyện vọng của họ. .
Tôi
cũng quan ngại trước những trường hợp đời sống và
văn hóa của cộng đồng địa phương hoặc cộng đồng
thiểu số đã bị các chương trình phát triển phá vỡ
hoàn toàn. Ví dụ, tôi được biết rằng người dân ở
giáo phận Cồn Dầu ở Đà Nẵng đã và vẫn đang tiếp
tục bị cưỡng chế khỏi mảnh đất họ đã sống lâu
đời để dọn đường cho một dự án nhà ở tư nhân
lớn. Tôi hy vọng rằng chính phủ sẽ kịp thời can thiệp
để giải quyết trường hợp cụ thể này. Nhìn chung
hơn, tôi khuyến nghị Chính phủ đảm bảo việc công
nhận sở hữu tập thể đối với đất đai cho những
cộng đồng có ước muốn giữ và phát triển nếp sống
truyền thống của họ, thường là dựa vào nông nghiệp,
vào rừng, chăn nuôi hay đánh cá.
Tôi
cũng đã thảo luận một vấn đề nữa liên quan đến
định nghĩa thế nào là hủ tục hay tập quán không tốt
cũng như “mê tín dị đoan”. Theo tôi hiểu, những khái
niệm này cần được làm rõ như là những thực hành mâu
thuẫn với các quyền con người hay hạ thấp nhân phẩm.
Tôi cũng khuyến khích chính quyền xác định những thực
hành này thông qua các cuộc thảo luận với những cộng
đồng liên quan.
Tôi
hoan nghênh những sáng kiến tích cực đã được Chính
phủ thực hiện. Những sáng kiến này bao gồm công việc
của Viện Ngôn ngữ học trong việc tài liệu hóa và bảo
tồn các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và xây dựng các
bộ chữ viết, cũng như dự án nghiên cứu thí điểm
tiến hành cùng UNICEF để thúc đẩy giáo dục song ngữ
cho người H’mong, J’rai và Khmer, ba trong số những nhóm
thiểu số lớn, ở cấp mầm non và tiểu học. Nghiên cứu
đã chứng minh, học sinh được thụ hưởng những chương
trình này có kết quả học tập tốt, và tôi khuyến nghị
mạnh mẽ với Chính phủ tiếp tục hỗ trợ dự án giáo
dục song ngữ, mở rộng phạm vi đến các nhóm khác, các
khu vực khác và các cấp học khác. Đồng thời, một số
người đã thông tin cho tôi, qua đó bày tỏ quan ngại đối
với bộ chữ đang được áp dụng cho một số nhóm. Ở
đây, một lần nữa, cách thức tích cực để giải quyết
những quan ngại đó là mời các nhà nghiên cứu và giới
học thuật của chính những cộng đồng dân cư liên quan
tham gia vào quá trình ra quyết định.
Thưa
quý bà, quý ông,
Một
trong những vấn đề then chốt với Việt Nam ngày nay là
có một không gian cho các cuộc tranh luận và biểu đạt
những quan điểm đa nguyên. Một ví dụ rõ ràng liên quan
đến vấn đề này, mà tôi rất quan tâm, là việc dạy
môn lịch sử với chỉ một bộ sách giáo khoa trong các
nhà trường. Như đã đề cập trong báo cáo chuyên đề
của tôi về viết sách sử và dạy sử trước Đại Hội
Đồng Liên Hợp Quốc năm nay (A/68/296), việc dạy sử nên
khuyến khích tư duy phê phán, học tập từ phân tích và
tranh luận, và tạo cách tiếp cận so sánh và đa chiều
hơn là ấn trẻ em vào quan điểm đơn chiều. Cách tiếp
cận này đặc biệt cần sử dụng rộng rãi nhiều loại
học liệu, bao gồm nhiều loại sách giáo khoa của nhiều
nhà xuất bản. Tôi khuyến khích nhiều bên liên quan ở
Việt Nam tham khảo báo cáo này của tôi.
Tôi
có ấn tượng tích cực rằng Chính phủ và xã hội dân
sự hiện nay đang nỗ lực định nghĩa lại biên độ
không gian cho những tiếng nói đa dạng có thể cất
lên.Tôi khuyến nghị mạnh mẽ với Chính phủ mở rộng
hơn không gian ấy, trên cơ sở Hiến pháp của các bạn
cũng như các tiêu chuẩn quốc tế. Cơ chế chính trị và
cấu trúc của chính quyền hiện nay ở Việt Nam, cùng với
rất nhiều các hội đoàn thể đang hoạt động chủ yếu
như các phương tiện truyền đạt những quyết định của
chính phủ, để lại không gian rất nhỏ bé cho xã hội
dân sự tự biểu đạt mình, đặc biệt với những người
làm công tác nghiên cứu hay các nghệ sỹ và những người
khác có thể có tư duy phê phán đối với những chính
sách của Chính phủ.
Đã
đến lúc Việt Nam đảm bảo tự do nhiều hơn cho các
biểu đạt nghệ thuật cũng như cho các tự do học thuật,
và cho phép những tiếng nói đa dạng tìm được chỗ
đứng của mình. Sự thiếu vắng các nhà xuất bản tư
nhân đã làm giảm đáng kể phạm vi cất lên của những
tiếng nói độc lập có thể được nghe thấy. Hiến pháp
quy định những quyền cơ bản, nhưng thường rất khó có
thể thụ hưởng những quyền này do rất nhiều các quy
định và sự thiếu rõ ràng cụ thể trong quy định việc
nào là chấp nhận được, việc nào là không.
Không
may là các quy trình tư pháp vẫn chưa giúp làm rõ những
thước đo rõ ràng của các luật cụ thể.
Thưa
các quý bà và quý ông,
Các
nghệ sỹ có thể giải trí cho người dân, nhưng họ cũng
có thể đóng góp vào những tranh luận xã hội, đôi khi
đưa ra những diễn ngôn đối lập. Trong lúc tôi rất vui
vì một số người cung cấp thông tin cho tôi nói rằng họ
đã thấy một không gian mở hơn để tự biểu đạt, tôi
cũng quan ngại sâu sắc trước tình trạng một số nghệ
sỹ đã bị tầm soát, sách nhiễu, hoặc bị giam giữ.
Trong các cuộc thảo luận của tôi với chính quyền, ví
dụ, tôi đã nêu ra những trường hợp bị kết tội theo
điều 88 Bộ luật Hình sự do “tiến hành tuyên truyền
chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam”. Tôi muốn nhấn mạnh rằng những biểu đạt nghệ
thuật là một phần không thể tách rời của đời sống
văn hóa và là trái tim của những nền văn hóa sinh động
cũng như trong hoạt động của một xã hội dân chủ. Vì
thế, tôi chân thành hy vọng rằng Chính phủ sẽ xem xét
lại chính sách của mình để đảm bảo tự do hơn cho
các biểu đạt nghệ thuật và sáng tạo, tuân theo những
tiêu chuẩn quốc tế.
Tôi
vô cùng biết ơn Chính phủ Việt Nam đã mời tôi tiến
hành chuyến thăm này, cho phép tôi được hiểu sâu thêm
những vấn đề hết sức nhạy cảm mà quan trọng. Lời
mời của Chính phủ đã khẳng định việc Chính phủ
thực sự coi trọng những vấn đề liên quan đến thụ
hưởng các quyền văn hóa. Tôi hiểu rằng điều này thật
sự rất khó khăn, đặc biệt thách thức với Chính phủ
để đảm bảo “sự đồng thuận” mà Chính phủ khuyến
khích dựa trên những quan điểm, biểu đạt và văn hóa
đa dạng của người dân.

0 nhận xét: