Nguyễn Trần Bạt - Nói đến tự do là nói đến các quyền con người. Đây là những khái niệm rất cơ bản và rất chuyên nghiệp của một xã hội dân chủ. Đó là kết quả của tiến trình thảo luận về quyền con người, về các giá trị con người ở châu Âu từ thế kỷ XV. Có nhiều cách tiếp cận các quyền của con người. Trong các học thuyết pháp lý hiện hành ở các nước phát triển, các quyền con người được phân định rõ ràng và được đảm bảo thực thi trên thực tế. Trong khi ở các nước kém phát triển, các quyền con người dường như chưa được phân định và lý giải rành mạch. Rất nhiều khái niệm bị lẫn lộn, thậm chí một số quyền được nhấn mạnh, một số quyền bị coi nhẹ, một số quyền không được đáp ứng hay không được đảm bảo.
Có thể thấy, từ trước đến
nay, các khái niệm về quyền được hiểu một cách hết
sức kỹ thuật, và do đó nó trở thành đối tượng
nghiên cứu trong các ngành hẹp của khoa học xã hội. Ví
dụ, luật học tập trung nghiên cứu cấu trúc các quyền,
xã hội học nghiên cứu các quyền con người trong mối
quan hệ giữa con người và xã hội… Tuy nhiên, trên thực
tế, những nghiên cứu như vậy chỉ có thể kiểm nghiệm
và đưa vào áp dụng ở các nước phát triển, nơi có
truyền thống về dân chủ, bởi vì ở đó những khái
niệm chung nhất, khái quát nhất của cấu trúc các quyền
được nhận thức một cách phổ biến. Trong khi lịch sử
hình thành và phát triển của các quốc gia châu Á cho
thấy chưa bao giờ cấu trúc các quyền được nghiên cứu
một cách phổ quát ở khu vực này. Nó không trở thành
đối tượng nhận thức và không được tận dụng như
là công cụ để giám sát những hoạt động vi phạm các
quyền con người. Thậm chí, ở các quốc gia phi dân chủ,
xu hướng chính trị hoá các vấn đề con người dẫn đến
việc nhấn mạnh các yếu tố cộng đồng, nhà nước,
tức là nhấn mạnh chủ quyền, sau đó đến quyền công
dân, rồi mới đến nhân quyền. Khi nói đến nhân quyền
người ta giải thích rằng nó đã được đề cập trong
hai khái niệm kia, và hai khái niệm đó phải có trước
nhân quyền.
Trong các quan điểm đấu tranh
với hiện tượng vi phạm nhân quyền ở các quốc gia phi
dân chủ, các nhà luật học đã định nghĩa rõ những
quyền nào là quyền tự nhiên của con người và những
quyền nào phụ thuộc vào mức độ phát triển. Những
quyền tự nhiên của con người có nghĩa là ở tất cả
các nơi, không phụ thuộc trình độ phát triển, tất cả
mọi người đều có những quyền tương ứng. Còn những
quyền phụ thuộc vào trình độ phát triển thì được
chi tiết hoá, cụ thể hoá, ví dụ như những quyền về
kinh tế hay một số quyền về văn hoá… Mặc dù vậy,
trên phạm vi toàn cầu vẫn chưa thực sự có sự phân
định rành mạch về các quyền con người.
Theo quan điểm của tôi, liên
quan đến con người có 3 cấp độ quyền, như người ta
đã thừa nhận, đó là nhân quyền, dân quyền và chủ
quyền. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhận thức được
một cách rõ ràng trật tự hay vị trí của các quyền
này trong cuộc sống của mình.
Thứ nhất là nhân quyền, đó là
quyền của con người, quyền ấy có giá trị phổ quát
toàn cầu, ở đâu có con người thì ở đấy có nhân
quyền. Tại sao cần phải nhấn mạnh ý nghĩa phổ quát
của nhân quyền? Vì khi nói tới nhân quyền, nhiều nước
thường đưa vào đó nội dung văn hoá, tức là họ cho
rằng nhân quyền ở nước này khác nhân quyền ở nước
kia vì nhân quyền là một quyền đặc thù có tính chất
địa lý hay có tính chất văn hoá. Rõ ràng đưa yếu tố
văn hoá vào để giải thích các vấn đề thuộc về con
người là một cách để ngụy biện, để che đậy một
thực tế là khái niệm quyền con người đã bị chính
trị hoá. Tôi phản đối cách giải thích và cách hiểu
này. Đã là nhân quyền thì quyền ấy phải được hiểu
theo những định nghĩa thống nhất toàn cầu. Khi nói đến
nhân quyền là nói đến các quyền cá nhân, quyền tự do
của mỗi một con người.
Thực tế, có sự khác nhau giữa
trạng thái nhân quyền ở quốc gia này và quốc gia kia,
nhưng đó không phải là đặc thù văn hoá mà là kết quả
của trình độ phát triển. Các điều kiện để tôn
trọng quyền con người rất khác nhau ở các quốc gia có
mức độ phát triển khác nhau. Điều đó có nghĩa, những
điều kiện chính trị khác nhau, những điều kiện kinh
tế khác nhau, những điều kiện phát triển khác nhau sẽ
tạo ra sự khác biệt giữa trạng thái nhân quyền ở các
quốc gia. Và như thế không có nghĩa là người ta có
quyền thừa nhận sự khác nhau về quyền con người. Phải
chấm dứt trạng thái cho rằng quyền con người là một
khái niệm mang đặc điểm văn hoá.
Nhân quyền là các quyền bẩm
sinh, quyền hiển nhiên, đấy là quyền của tạo hoá.
Quyền của tạo hoá là quyền phổ biến, nó đúng và nó
là đòi hỏi cho bất kỳ vùng địa lý nào, bất kỳ thể
chế hay quốc gia nào. Bản Tuyên Ngôn Ðộc lập năm 1776
của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, có lẽ là văn bản đầu
tiên công bố khái niệm quyền con người một cách chính
thức. Bản tuyên ngôn đã khẳng định quyền con người
là vốn có và không thể xâm phạm, nó xuất hiện, tồn
tại cùng xã hội loài người, không phải do con người
võ đoán hoặc do ý chí áp đặt mà do “tạo hóa” sinh
ra. Cần phải lên án và xoá bỏ tất cả mọi âm mưu làm
biến dạng các quyền tự nhiên của con người.
Quyền thứ hai là dân quyền hay
quyền công dân, các quyền này quy định hành vi của
người dân. Nếu không phân biệt nhân quyền và dân quyền
thì rõ ràng chúng ta không biết bảo vệ dân quyền. Mỗi
một quốc gia là sự kết hợp có chất lượng lịch sử
của các mối tương quan giữa con người, giữa các cá
thể với nhau. Điều đó có nghĩa, các quốc gia có sau
con người và vì thế dân quyền có sau nhân quyền. Hơn
nữa, dân quyền phải được định nghĩa dựa vào trạng
thái phát triển chính trị của các quốc gia, hay quyền
cơ bản của công dân lệ thuộc chủ yếu vào cấu trúc
chính trị của quốc gia. Do đó, dân quyền là sản phẩm
mang chất lượng quốc gia còn nhân quyền là sản phẩm
tự nhiên của con người.
Hiện nay, ở hầu hết các quốc
gia lạc hậu có sự không rành mạch giữa nhân quyền và
dân quyền, tức là quyền cơ bản của con người với
quyền cơ bản của công dân. Trong hiến pháp của một số
nước, nhân quyền được quy kết vào quyền công dân:
"các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở
các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và Luật"… Đó là sự thay thế nhân quyền bằng dân
quyền, tức là biến một quyền hiển nhiên của con người
thành quyền cho con người. Sự nhập nhằng giữa nhân
quyền và dân quyền thường tồn tại ở những nhà nước
phi dân chủ, còn ở những nhà nước dân chủ thì sự
khác biệt ấy là rõ ràng, ở đó nhân quyền và dân
quyền là hoàn toàn khác nhau.
Nhân quyền khi trộn lẫn vào dân
quyền thì luôn luôn phải đi qua cái vỏ hình thức của
dân quyền. Một nhà nước mà không thực sự là của
nhân dân thì nhà nước đó là cấp trên của nhân dân,
nhà nước đó xác lập các quyền con người. Khi đó, các
quyền đương nhiên, vốn có của con người trở thành
các quyền có tính chất ban phát. Nhân quyền phải được
luật pháp các nước thừa nhận, tức là nó được thể
hiện dưới vỏ quyền công dân, phải nằm trong các bộ
luật dưới hình thức các quyền công dân. Thế nhưng
trong điều kiện các nhà nước phi dân chủ là nhà nước
không được tạo ra bởi nhân dân, không được kiểm
soát bởi nhân dân, thì đương nhiên, các quyền con người
thông qua dân quyền trở thành quyền được bàn bạc bởi
nhà nước. Ở những nơi đó, cả nhà chính trị và người
dân không hiểu được giá trị nhân quyền, nên mới có
thực tế là bản thân nhân dân cũng tầm thường hóa
nhân quyền, cho rằng không cần đến nhân quyền mà chỉ
cần dân quyền là đủ. Điều này cũng lý giải tại sao
cải cách của những nước đó thất bại, là bởi thông
qua cải cách, người ta chỉ tìm cách giải quyết những
bài toán nới rộng không gian về dân quyền, tức là nới
rộng quan hệ giữa con người và nhà nước mà bỏ qua
vấn đề mấu chốt là nhân quyền. Người ta không nhận
ra rằng nhân quyền mới là trung tâm của mọi vấn đề.
Quyền thứ ba là chủ quyền. Chủ
quyền chính là quyền quốc gia hay quyền sở hữu đất
nước, mà người đại diện cho quốc gia là nhà nước.
Lâu nay, nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia
chậm phát triển hay nhấn mạnh vấn đề chủ quyền. Ở
những nước này, chủ quyền chỉ được hiểu như là
quyền của những người đại diện quốc gia để đối
thoại với quốc gia khác mà người ta không biết rằng,
chủ quyền chính là quyền của con người làm chủ đất
nước, làm chủ quốc gia và tập trung tạo ra chính phủ,
tạo ra nhà nước của mình. Đây chính là mấu chốt của
mọi vấn đề liên quan đến quyền con người, nói cách
khác, chủ quyền là nơi tập hợp tất cả những vấn đề
phức tạp về phương diện chính trị của cấu trúc các
quyền. Vì thế, nếu không làm rõ khái niệm nhân quyền
thì nhân dân không hiểu đúng về chủ quyền, càng không
biết đòi hỏi cơ hội để nói về vấn đề chủ quyền.
Trên thực tế, người định
nghĩa chủ quyền chính là các chính phủ. Đất đai là sở
hữu toàn dân là một cách giải thích chủ quyền, biên
giới là khái niệm mang tính chất chủ quyền. Sự tranh
chấp về chủ quyền chủ yếu thông qua sự đàm phán của
các quốc gia, của các chính phủ. Các chính phủ thường
cường điệu mặt đối ngoại của chủ quyền mà quên
mất nội dung bên trong, nội dung đối nội của nó. Nội
dung đối nội của chủ quyền là quyền sở hữu đất
nước, quyền làm chủ đất nước của mỗi một người
dân. Và chỉ khi đất nước có ngoại xâm, hay là chỉ
trong những trạng thái có chiến tranh xâm lược thì chủ
quyền mới được giải thích như quyền đối ngoại. Còn
trong điều kiện hoà bình, trong điều kiện các cộng
đồng dân tộc thích hoà bình và không có chiến tranh,
nội dung cơ bản của chủ quyền là các quyền đối nội,
tức là quyền đối với nhau của các thành viên cấu
trúc ra xã hội và cùng chia nhau quyền làm chủ quốc gia
mình.
Tuy nhiên, chủ quyền là quyền
chính trị, nó được cấu trúc, được hình thành và
phát triển bởi chất lượng của hệ thống chính trị.
Lịch sử đã chứng minh rằng dân chủ là thể chế hợp
lý nhất mà ở đó người dân có toàn quyền đối với
đất nước của mình, chủ quyền là công cụ để bảo
vệ nhân quyền và dân quyền. Vấn đề cần phải nghiên
cứu là, ai là người đại diện cho chủ quyền trong các
phát biểu quốc tế, trong các thảo luận quốc tế? Cơ
sở pháp lý nào của các chính phủ cho phép họ có quyền
nói về chủ quyền? Như vậy, các chính phủ phải là
người đại diện chân chính và hợp pháp cho nguyện vọng
của người dân và chỉ những người được lựa chọn
bởi người dân mới có đầy đủ quyền của người đại
diện. Quyền làm chủ của người dân trong chủ quyền là
tạo ra chính phủ theo ý muốn và các chính phủ bắt buộc
phải đối thoại quốc tế dựa vào đòi hỏi của người
dân thông qua việc tạo ra các sinh hoạt quốc hội.
Một cách tổng quát, có thể kết
luận, chủ quyền là một khái niệm gồm hai yếu tố, đó
là quyền tạo ra chính phủ của người dân, và quyền
làm chủ của người dân, tức là quyền tạo ra các trạng
thái chính sách, các trạng thái pháp luật. Nói cách khác,
chủ quyền của người dân được xác lập tập trung ở
các quyền dân chủ đối với hệ thống chính trị. Đây
là một kết luận có tính chất lý luận căn bản về tổ
chức nhà nước trong một nền chính trị dân chủ.
Chúng ta phải nhận biết các cấp
độ quyền con người để thấy được cần phải tôn
trọng và bảo vệ con người với đầy đủ các quyền
của họ. Tôn trọng và bảo vệ các quyền con người là
dấu hiệu của xã hội có những con người tự do hay xã
hội dân chủ. Emmanuel Kant (1724 - 1804), người đã từng
có đóng góp lớn vào việc nghiên cứu sự vận hành của
trái đất, sự tồn tại của Ðại Thiên hà vũ trụ nằm
ngoài Thiên hà, cũng chính là nhà bác học rất thích nhắc
đi nhắc lại câu ngạn ngữ: "Hãy thực hiện công lý
đi, cho dù thế giới có tiêu vong". Có thể hiểu câu
ngạn ngữ này là, dù thế giới có tiêu vong đi chăng nữa
thì chúng ta vẫn phải tôn trọng công lý, vì sự tôn
trọng công lý là dấu hiệu thể hiện chúng ta là con
người, mà tôn trọng công lý chính là tôn trọng con
người, tôn trọng các quyền con người. Qua câu nói đó,
chúng ta thấy được tầm vóc suy nghĩ, sự lạnh lùng, sự
tỉnh táo, sự thú vị và bản lĩnh của một nhà hiền
triết vĩ đại. Những con người như thế giúp chúng ta
nhận thức về bản thân, về nhu cầu phải khám phá,
phải đòi hỏi để từ đó trả lời câu hỏi chúng ta
là ai, nếu chúng ta là con người thì phải sống đúng
nghĩa là người với đầy đủ các quyền con người.
Nguyên lý về quyền con người
là nguyên lý mà người ta không thể nhân danh bất kỳ lý
do nào để phủ nhận nó được, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến sức cạnh tranh của một dân tộc trong quá
trình ganh đua toàn cầu. Chân lý tất yếu của quyền con
người là sự tự giác của các không gian. I. Gandhi trước
khi làm thủ tướng Ấn Độ viết một luận văn tiến sỹ
là Không gian vật chất và tinh thần cần thiết cho một
cá nhân để phát triển. Quyền là không gian sáng tạo
của con người, không gian tuyệt đối phải được đảm
bảo nếu con người muốn phát triển, hay muốn trở thành
nhà lãnh đạo chân chính. Do đó, nhiệm vụ của nhà
chính trị là biến trí lực của người dân thành lực
lượng của đời sống xã hội. Nhà chính trị, nhà lãnh
đạo có không gian quyền lực riêng, đó là không gian
phối hợp các năng lực của đời sống xã hội mà nhà
chính trị quản lý.
Những phẩm hạnh: tự do, bình
đẳng, bác ái
Về vấn đề quyền con người,
có nhiều quan điểm nhưng cách phân chia thành ba cấp độ
quyền như vậy xuất phát từ lập luận của tôi: con
người là trung tâm của mọi sự phát triển, hơn nữa là
để cho con người tự do, con người bình đẳng và con
người bác ái. Tất cả các bộ luật đều được xây
dựng dựa vào sự tôn trọng ba quyền cơ bản này. Trong
tuyên ngôn của Cách mạng Pháp có nói đến tự do, bình
đẳng, bác ái như là những khẩu hiệu. Nhưng chúng ta
cần phải hiểu, tự do, bình đẳng, bác ái là những
phẩm chất thuộc về bản thân con người. Tự do, bình
đẳng, bác ái chính là một trong các quyền trung tâm của
nhân quyền.
Trước hết, đã là con người
thì phải tự do và có khát vọng tự do. Nếu con người
không có khát vọng tự do thì tự do sinh ra vô nghĩa. Tự
do là đòi hỏi tự nhiên của con người, thuộc về con
người, bắt đầu từ con người, và là phẩm chất phổ
quát của con người. Bởi tự do sinh ra con người, nếu
không tự do thì không phải là con người, nên tự do là
phẩm hạnh quan trọng số một của con người.
Thứ hai là, con người phải bình
đẳng và phải có khát vọng bình đẳng. Bởi nếu không
có khát vọng bình đẳng thì sẽ không có cái vỏ vật
chất của khát vọng tự do. Điều kiện đầu tiên và
quan trọng nhất của khát vọng tự do là khát vọng bình
đẳng. Nói như vậy có vẻ trừu tượng nhưng nếu để
ý thì chúng ta sẽ thấy điều này rất rõ trong cuộc
sống hàng ngày của mỗi con người. Nếu một người sợ
một người, một người không bình đẳng với một người
thì ngay lập tức, người đó có cảm giác mất tự do.
Và cảm giác mất tự do là cảm giác mất một cách song
phương các quan hệ giữa con người này với con người
khác.
Đôi lúc người ta cứ nghĩ rằng
cảm giác mất tự do của những quốc gia không thiếu dân
chủ là cảm giác của cá nhân với nhà nước, nhưng thực
ra không phải như vậy. Cảm giác không có tự do là cảm
giác có thật trong quan hệ song phương giữa một cá nhân
với các cá nhân có tư cách đại diện cho nhà nước.
Anh không có tự do với một người công an cụ thể nào
đó chứ anh không có cảm giác mất tự do với khái niệm
công an. Vì thế, tự do là phẩm hạnh số một, là phẩm
hạnh đầu tiên, là phẩm hạnh có tính chất tiên đề
để hình thành khái niệm con người. Và bình đẳng là
đòi hỏi tất yếu cho quan hệ giữa con người với nhau,
đó là cảm giác mà con người cần phải có đối với
tất cả các quan hệ song phương của họ trong cuộc sống.
Cuối cùng, bác ái là phẩm chất
cải thiện môi trường sống của con người. Trong cấu
trúc của bác ái có cả sự vị tha, vị tha là phẩm hạnh
cần có để con người có thể sống được với nhau.
Vươn tới sự bác ái cao quý chính là để hoàn thiện
giá trị con người.
Xưa nay, các nhà luật học, các
nhà chính trị học nói về tự do, bình đẳng, bác ái
như những khẩu hiệu chính trị, chưa bao giờ, chưa ở
đâu những khái niệm đó được giải thích như là phẩm
hạnh con người. Con người chấp nhận trạng thái ban
phát những thứ đó chính là con người không hiểu tự
do và không có tự do. Nếu như con người không hưởng
ứng khái niệm tự do, không hưởng ứng khái niệm bình
đẳng, không hưởng ứng khái niệm bác ái, thì tự do,
bình đẳng, bác ái không có chỗ cư trú và không có nội
dung gì trong cuộc sống. Bởi vì, chỗ cư trú duy nhất mà
khái niệm tự do, bình đẳng, bác ái có thể có trong đời
sống chính là con người. Con người là nơi cư trú của
những khát vọng về tự do, khát vọng về bình đẳng,
khát vọng về bác ái. Cho nên khi con người không trở
thành trung tâm của mọi sự chú ý thì tất cả những sự
sắp đặt trật tự đều không có ý nghĩa. Do vậy, vấn
đề đặt ra không phải là có nhân quyền hay không, mà
là nhân quyền được tôn trọng và thể hiện như thế
nào trong các nền chính trị khác nhau, các nhà nước khác
nhau và các trình độ phát triển khác nhau.

0 nhận xét: